Mời Quý độc giả CLICK vào liên kết hoặc ảnh bên dưới
mở ứng dụng Shopee để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
https://s.shopee.vn/8KhZtR0ImH
Tịnh Ngôn Cốc và đội ngũ Editor xin chân thành cảm ơn!
Chương 11: Ngoại truyện: Lục Dịch
Lần cuối cùng tôi thực hiện nhiệm vụ ở hình thái con người là vào một đêm hè oi ả.
Tôi và cộng sự Trần Tự mai phục đối diện một tòa nhà bỏ hoang, đợi suốt bảy tiếng đồng hồ, mục tiêu cuối cùng cũng xuất hiện.
Trong kính ngắm hồng ngoại, điểm đỏ khóa chặt tâm mày mục tiêu một cách vững chãi.
"Chuyện giải quyết được bằng một phát súng, cứ phải mai phục lâu thế này." Trần Tự nhai kẹo cao su, uể oải vô cùng.
Tôi không thèm để ý đến cậu ta.
Ngón trỏ đặt trên vòng bảo vệ cò súng, không chạm vào.
Đây không phải lần đầu tiên Trần Tự phàn nàn.
Chúng tôi cộng tác ba năm, Trần Tự chưa bao giờ biết kiên nhẫn là gì.
Nhưng Trần Tự bắn súng chuẩn, phản ứng nhanh, vào thời khắc mấu chốt chưa bao giờ gây hỏng việc.
Tôi dung túng mọi thói hư tật xấu của cậu ta, bởi vì chúng tôi là tình nghĩa vào sinh ra tử.
—— Ít nhất tôi đã từng nghĩ như thế.
Trên đường thu quân, Trần Tự bỗng nói: "Lão Lục, có chuyện này tôi vẫn luôn không nói với anh."
Tôi nghiêng đầu nhìn cậu ta.
Gió đêm hè luồn qua cửa xe, gương mặt Trần Tự nửa sáng nửa tối.
"Có người ở trên muốn gặp anh, gặp riêng."
Tôi không hỏi là ai.
Làm nghề này, biết càng ít sống càng lâu.
Tôi chỉ đợi Trần Tự nói tiếp.
"Không phải chuyện xấu," Trần Tự cười, "là chuyện tốt. Anh mấy năm nay vào sinh ra tử, cũng nên..."
Cậu ta khựng lại, không nói hết.
Tôi nhìn ánh đèn neon lùi lại nhanh chóng ngoài cửa sổ, nói: "Để sau đi."
Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Trần Tự.
Ba ngày sau, tôi một mình tiến về một nhà máy hóa chất bỏ hoang ở ngoại ô thành phố, để xác thực một tin tình báo mật về một kẻ đào tẩu nào đó.
Đây là thói quen của tôi.
Có những manh mối quá nhạy cảm, không thích hợp đi theo quy trình chính thức, đợi xác thực rồi mới báo cáo lên trên.
Xưởng chính của nhà máy hóa chất gỉ sét loang lổ, mái tôn thủng mấy lỗ lớn, ánh trăng lọt vào, soi rõ những vũng nước đọng và những thùng phi phế thải đầy đất.
Trong không khí còn vương mùi hóa chất kinh niên không tan, nồng nặc, buồn nôn.
Tôi tiến lên dọc theo chân tường, tay đặt lên vũ khí bên hông.
Năng lực của tôi bị áp chế ở đây.
Ngay khi bước vào cửa tôi đã cảm nhận được rồi, ở đây có một loại máy gây nhiễu trường đặc biệt dành cho những người như tôi.
Nhưng tôi không rút lui.
Không phải tự phụ, mà là tin tưởng.
Tôi tin tưởng người chiến hữu đã cộng tác ba năm sẽ không phản bội hành tung của tôi.
Tôi tin tưởng ba năm vào sinh ra tử của mình có thể đổi lại một câu "Có người ở trên muốn gặp anh" thực thụ.
Tôi tin.
Nên tôi bước vào, một bước, hai bước, ba bước——
Sau đó vụ nổ vang lên ngay dưới chân, lửa thiêu rụi một phần ba tầm nhìn của tôi, luồng khí hất văng tôi vào khung thép gỉ sét, cột sống đập vào gờ sắt, cơn đau thấu xương xuyên thấu toàn thân.
Tôi ngã gục trong đống đổ nát, nghe thấy tiếng bước chân từ xa lại gần, đế giày giẫm lên mảnh kính vỡ, răng rắc, răng rắc.
Có người ngồi xuống.
Gương mặt Trần Tự, ngược sáng với ngọn lửa, rất bình thản.
"Anh quá giỏi đánh đấm rồi, lão Lục," cậu ta nói, "có vài người không muốn anh sống sót trở về."
Tôi không nói được lời nào. Trong phổi toàn là bọt máu và bụi bặm.
Trần Tự cúi đầu nhìn tôi, trong mắt không có sự tội lỗi, không có sự né tránh, chỉ có sự thanh thản.
"Cái bộ năng lực đó của anh, cấp trên rất hứng thú. Mẫu vật đã chết cũng có giá trị. Đừng trách tôi, tôi chỉ là chọn một người chủ tốt hơn thôi."
Cậu ta đứng dậy, đá văng những viên gạch vụn bên chân, quay người bước vào bóng tối.
Tiếng bước chân xa dần, biến mất trong tiếng lửa nổ lách tách của đám cháy.
Tôi nằm đó, nhìn mái nhà gỉ sét loang lổ, nhìn ánh trăng lạnh lẽo như sương lọt xuống từ những lỗ thủng.
Tôi không nghĩ đến Trần Tự, không nghĩ đến ba năm vào sinh ra tử đổi lại được gì.
Tôi thậm chí không nghĩ mình còn sống được bao lâu.
Tôi chỉ đang nghĩ: Hóa ra là vậy.
Hóa ra lưỡi dao đâm vào từ phía sau, lại lạnh lẽo đến thế.
Tôi nằm trong đống đổ nát suốt một đêm.
Trường năng lực sau khi bị kích nổ đã vỡ vụn tan tác, như chiếc bình sứ rơi xuống đất, những mảnh vỡ găm sâu vào da thịt.
Tôi thử vận động năng lực, bên trong trống rỗng, chỉ còn lại một tiếng vang hoang vu.
Lúc bình minh, tôi bò dậy.
Trên người gãy bảy chỗ, ba vết thương xuyên thấu, máu thấm đẫm bộ đồ tác chiến màu đen thành màu đỏ sẫm, trộn lẫn với bụi đất và vết dầu mỡ, không còn nhìn ra màu gốc.
Tôi đã đi suốt một đêm, tránh được ba đợt truy lùng, ngất lịm trong tầng hầm của một xưởng bỏ hoang ở ngoại ô thành phố.
Khi tỉnh dậy, tôi đang vùng vẫy thoát thân khỏi miệng một con mèo hoang.
Con mèo đó đang tha tôi, định kéo về tổ cho con nó ăn.
Tôi mổ vào mũi con mèo một cái.
Hóa ra tôi đã có mỏ.
Con mèo kêu thảm rồi nhả ra, tôi khập khiễng lao vào bụi rậm bên cạnh, ngồi xổm cạnh một vũng nước bên khóm hoa hồng dại, cúi đầu nhìn mình.
Lông vũ màu xanh.
Đôi má có đốm tím hồng.
Một đôi mắt đen hạt đậu tròn vo.
Tôi, Lục Dịch, quân bài át chủ bài trẻ tuổi nhất kể từ khi thành lập Cục Giám sát Đặc biệt, tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ chín mươi bảy phần trăm, mật danh "Bất Khả Kiến".
Đã biến thành một con vẹt yến phụng.
Khoảnh khắc đó tôi không nghĩ đến báo thù, không nghĩ đến phẫn nộ, không nghĩ đến "tại sao lại như vậy".
Tôi nghĩ là: Cái này cũng... xấu quá rồi đấy.
Khôi phục hình người? Không làm được.
Rời đi? Không nơi nương tựa.
Báo thù? Tôi đến nắm đấm của con người còn không nắm lại được.
Tôi đã biến thành một con chim.
Đói thì ăn hạt cỏ ở dải phân cách, khát thì uống nước ở hồ phun nước, buồn ngủ thì tìm hốc cây, từng bị những con chim khác đuổi theo mổ, từng bị mèo hoang chặn đầu ba lần, từng bị một đứa trẻ dùng súng cao su bắn một phát, viên bi lướt qua cánh bay đi, rụng mất ba sợi lông.
Tôi bay khỏi thành phố đó.
Không có mục đích, chỉ là rời đi thôi.
Tôi bay qua những con đường cao tốc bị bỏ hoang, những lòng sông cạn khô, những nhà xưởng tắt đèn, bay qua những quán ăn sáng thắp lên ngọn đèn đầu tiên lúc bốn giờ sáng, bay qua cầu vượt lúc sáu giờ sáng, khi bà cụ bán bánh kếp đã bắt đầu nhào bột.
Sau đó tôi bay vào một thành phố xa lạ, đậu lên mái hiên của một khu chợ chim cảnh.
Bên dưới người qua kẻ lại tấp nập, tiếng mặc cả, tiếng chim kêu thú hú trộn lẫn thành một làn sóng âm đục ngầu.
Tôi cúi đầu, nhìn thấy từng lồng, từng lồng đồng loại.
Yến phụng, vẹt mào, mẫu đơn, họa mi, bị nhốt trong những chiếc lồng sắt hẹp, con thì rỉa lông, con thì ngẩn ngơ, con thì liều mạng mổ cửa lồng, mỏ mài ra máu cũng không dừng lại.
Tôi đứng ở góc mái hiên, nhìn rất lâu.
Sau đó tôi bay vào trong.
Không phải để được mua đi.
Tôi chỉ nghĩ, ở nơi ồn ào chen chúc này, sẽ không ai chú ý đến một con vẹt thừa ra.
Tôi có thể trốn ở đây.
Những ngày ở chợ chim cảnh dễ thở hơn ở hốc cây.
Các chủ tiệm sẽ ném thức ăn, những đứa trẻ mua chim sẽ cách lồng trêu chọc, nước cũng đầy đủ.
Vấn đề duy nhất là ồn.
Hàng trăm con chim cùng lúc cất giọng, giống như đặt một chiếc loa phóng thanh không nghỉ suốt ngày đêm bên tai.
Nhưng tôi không quan tâm.
Ồn một chút cũng tốt.
Những lúc quá yên tĩnh, tôi luôn nhớ về nhà máy hóa chất đêm hè năm đó, ánh trăng và lửa, và cả bóng lưng Trần Tự quay người bước vào bóng tối.
Tôi bắt đầu học nói.
Không phải để giao tiếp. Chỉ là rảnh rỗi không có việc gì làm thôi.
Con vẹt mào già nhà chủ tiệm là "vua nói nhiều" của cả khu chợ, mồm mép toàn những lời sến súa không đứng đắn, nghe nói là do chủ cũ dạy, sau này người đó chuyển nhà nên bán chim vào chợ.
Vẹt mào già mỗi ngày đều treo ở nơi nổi bật nhất của gian hàng, thấy nam thì gọi soái ca, thấy nữ thì gọi mỹ nữ, còn biết dùng tiếng địa phương mắng chủ tiệm bán chuột hamster bên cạnh, vốn từ vựng khá là phong phú.
Tôi ngồi xổm bên cạnh nghe suốt một tháng, học hết sạch bộ bí kíp của nó.
"Soái ca! Nhìn đây này!"
"Mỹ nữ hôm nay thật xinh đẹp!"
"Bảo bối hôn một cái nào! Mua——"
Vẹt mào già một ngày nọ chằm chằm nhìn tôi, nghiêng đầu, dùng ánh mắt kiểu "thằng nhóc này được đấy" nhìn hồi lâu, từ đó đơn phương nhận tôi làm đệ tử chân truyền.
Tôi chưa bao giờ nói mình vốn dĩ biết nói.
Tôi chỉ là một con vẹt, học nói là bổn phận của tôi.
Những lời sến súa đó thốt ra từ miệng tôi, lả lướt, náo nhiệt, vô tâm vô tính.
Cách xa với con người thật sự của tôi bởi một lớp vỏ dày cộm.
Cũng tốt. Vỏ dày một chút thì sẽ không ai có thể làm tổn thương thứ bên trong.
Tôi đã ở chợ chim cảnh bốn tháng.
Từng gặp rất nhiều khách hàng.
Có gia đình ba người đến mua quà sinh nhật cho con, cô bé con nằm bò trước lồng yến phụng xem suốt nửa tiếng, cuối cùng chọn một con màu vàng ồn ào nhất.
Cô bé đặt tên cho con chim đó là "Mặt Trời".
Có bà cụ sống neo đơn tuần nào cũng đến, không mua, chỉ trò chuyện với con sáo biết đọc thơ Đường kia, một cuộc trò chuyện kéo dài suốt cả buổi chiều.
Chủ tiệm chưa bao giờ đuổi bà, thỉnh thoảng còn bê ghế cho bà ngồi.
Có những đôi tình nhân đến chọn vẹt mẫu đơn, cô gái chê lồng đắt, chàng trai không nói hai lời liền rút tiền ra.
Hai người xách lồng chim đi xa dần, tiếng cười của cô gái xuyên qua sự náo nhiệt của cả khu chợ, trong trẻo như tiếng chuông.
Và còn có một người nữa.
Đó là một ngày u ám, người trong chợ ít hơn hẳn thường ngày.
Tôi vẫn như thường lệ ngồi xổm trên thanh đậu ở mép gian hàng, lười nhác rỉa lông.
Sau đó tôi nhìn thấy người đó.
Cậu ấy không cao, gầy, mặc một chiếc áo nỉ màu xám giặt đến bạc màu, đứng ở rìa đám đông.
Xung quanh người qua kẻ lại, cậu ấy như một tảng đá ngầm, bị dòng nước xô đẩy nhưng vẫn bất động.
Biểu cảm rất nhạt, ánh mắt rất trống rỗng.
Không phải lạnh lùng.
Lạnh lùng là có nhiệt độ, là sự từ chối, là sự khinh miệt.
Tôi đã thấy nhiều loại yên tĩnh.
Có người là giấu, có người là nhịn, có người là lười mở miệng.
Sự yên tĩnh của người này không giống thế.
Sự yên tĩnh của cậu ấy là một kho lạnh bị phong kín, cửa bị khóa trái từ bên trong, chìa khóa đã bị vứt bỏ vào một ngày nào đó từ rất lâu rồi.
Không phải không có người muốn gõ cửa.
Mà là chính cậu ấy, từ bên trong, đã xây kín tất cả các cửa sổ.
Tôi không biết tại sao mình lại bay tới đó, đậu lên vai người ấy.
"Soái ca! Nhìn đây này!"
Người ấy quay đầu lại, nhìn tôi.
Khoảng cách quá gần, tôi nhìn rõ đôi mắt ấy.
Đen một cách thuần túy, như mặt hồ đêm không sao không trăng giữa mùa đông giá rét.
Không phải không có gợn sóng, mà là tất cả gợn sóng đều bị đóng băng dưới lớp băng.
Nhưng băng thì trong suốt.
Tôi đã thấy dòng chảy ngầm bên dưới.
Chủ tiệm đuổi tới, tôi trốn sang bả vai bên kia của người ấy.
Người ấy không động đậy, để mặc tôi đứng đó.
Ngón tay buông thõng bên hông, khẽ khàng co lại một cái.
Tôi đã nhìn thấy rồi.
Tôi bỗng nhớ lại bản thân mình nằm trong đống đổ nát bốn tháng trước.
Nhớ về ánh trăng, nhớ về lửa, nhớ về lưỡi dao đâm từ phía sau.
Và cũng nhớ rằng, khi tất cả các cánh cửa đều đóng lại với tôi, tôi chỉ muốn tìm thấy một cửa sổ.
"Lấy con này đi."
Người ấy đưa bản ghi chú trên điện thoại cho chủ tiệm.
Không có âm thanh, chỉ có ba chữ trên màn hình.
Cậu ấy tên Cố Án.
Tôi bay vào chiếc lồng trống mà chủ tiệm xách tới.
Cửa lồng đóng lại, một tiếng "cạch" nhẹ nhàng vang lên.
Sự ồn ào xung quanh bỗng nhiên lùi xa.
Tôi nhìn góc mặt nghiêng của Cố Án, người ấy cúi đầu xác nhận xem bát ăn của chim đã được lắp chặt chưa, hàng mi rủ xuống, yên tĩnh như một bức tranh.
Tôi từng bay qua vô số thành phố, vô số con đường, vô số ô cửa sổ rực sáng ánh đèn.
Tôi chưa từng nghĩ mình sẽ dừng lại.
Vào lúc này, tôi lại thu cánh lại.
Tôi nghĩ, cứ dừng lại một chút đi.
Những chuyện sau đó, tôi chưa bao giờ kể lại trọn vẹn cho Cố Án nghe.
Tôi không nói rằng, trong bốn tháng ở chợ chim cảnh đó, thực ra ngày nào tôi cũng mơ cùng một giấc mơ.
Mơ thấy mình lại biến thành người, đứng ngoài một ô cửa sổ rực sáng đèn nào đó, gõ thế nào cũng không có người mở cửa.
Tôi không nói rằng, lý do tôi dám thú nhận thân phận vào đêm mưa đó là vì tôi quá quen thuộc với lớp băng trong mắt Cố Án.
Tôi biết đó không phải là sự từ chối, mà là sự bảo vệ.
Tôi biết bên dưới lớp băng là gì, bởi vì chính tôi cũng đã sống như thế mà vượt qua.
Tôi chưa bao giờ nói rằng, lần đầu tiên Cố Án mở miệng gọi tên tôi, tôi đã ở trong lòng nghiền ngẫm cái tên "Lục Dịch" khàn đặc vỡ vụn đó hàng trăm lần.
Tôi không nói rằng, lần ở tòa nhà hành chính đại học đó, tôi đã cưỡng ép hóa thành hình người giữa ban ngày, suýt chút nữa khiến năng lực vừa mới ổn định lại bị sụp đổ một lần nữa.
Nhưng tôi không hối hận.
Tôi thấy Cố Án ngã xuống, trong đầu chỉ có một ý nghĩ duy nhất:
Không thể để cậu ấy ngã xuống đất.
Tôi không nói rằng, những ngày tôi rời đi, thực ra không phải là đi "dọn dẹp cuối cùng".
Tôi đi gặp Trần Tự.
Trong một góc của một thành phố khác, Trần Tự đã thay đổi thân phận, thay đổi chủ mới, sống khá tốt.
Thấy một chú vẹt đậu trên bục cửa sổ nhà mình, cậu ta thậm chí còn cười.
"Lão Lục? Thật sự biến thành chim rồi sao? Đáng thương quá."
Tôi không ôn lại chuyện cũ với cậu ta.
Tôi chỉ hỏi cậu ta một câu: "Ba năm đó, có giây phút nào cậu coi tôi là anh em không?"
Trần Tự không trả lời.
Tôi cũng không hỏi thêm nữa.
Ba phút sau, tôi biến lại thành vẹt, bay khỏi cửa sổ của người đó, không bao giờ quay đầu lại nữa.
Tôi không kể cho Cố Án nghe những chuyện này, bởi vì không cần thiết.
Hận thù là ngọn lửa sẽ thiêu rụi chính bản thân mình.
Tôi đã thiêu đủ rồi.
Tôi chỉ muốn ở bên cạnh Cố Án, nghe cậu ấy dùng chất giọng khàn đặc chưa hoàn toàn quen với việc phát âm đó gọi tên tôi.
Thế là đủ rồi.
Khi mùa xuân đến, Cố Án nói nhiều hơn trước một chút.
Vẫn ít, nhưng ít nhất sẽ chủ động nói cảm ơn với nhân viên bưu tá, thỉnh thoảng sẽ gật đầu chào ông cụ dắt chó đi dạo tầng dưới.
Tần suất tôi xuất hiện ở hình thái con người ngày càng cao.
Năng lực của tôi hồi phục rất tốt.
Có lẽ là bởi vì không còn cần dùng nó để chiến đấu, không còn cần đề phòng lưỡi dao sau lưng nữa.
Tôi chỉ cần đi cùng một người đi khám bệnh, nấu mì, nắm chặt bàn tay đang run rẩy của cậu ấy trong đêm khuya.
Một buổi hoàng hôn nọ, chúng tôi ngắm hoàng hôn ngoài ban công.
Cố Án bỗng nói: "Anh lúc trước, có phải rất lợi hại không?"
Tôi ngẩn người một lát.
"Lúc trước?" Tôi nghĩ ngợi, rồi cười, "Cũng coi là vậy đi. Có một công việc, có một cộng sự. Sau đó... không còn nữa."
Tôi nói một cách nhẹ nhàng bâng quơ.
Những chuyện trong quá khứ đã trôi qua rồi, tôi không muốn để những hạt bụi đó rơi vào cuộc sống hiện tại.
Cố Án im lặng một lát.
"Vậy còn bây giờ?"
"Bây giờ?" Tôi nghiêng đầu nhìn cậu ấy.
Ánh hoàng hôn mạ lên góc mặt nghiêng của Cố Án một lớp vàng mỏng manh, bóng của hàng mi rơi xuống xương gò má, yên tĩnh mà sinh động.
"Bây giờ chỉ là một..." Tôi khựng lại, đổi giọng, "Một kẻ lắm lời."
Khóe môi Cố Án khẽ động đậy, giống như muốn cười, nhưng lại nhịn được.
"Ồn chết đi được." Cậu ấy nói.
"Rõ ràng là cậu thích mà."
Cố Án không phản bác.
Cậu ấy nghiêng đầu, nhìn về phía những dãy nhà xa xăm bị ráng chiều nhuộm đỏ.
Hồi lâu sau, lâu đến mức tôi tưởng chủ đề này đã kết thúc rồi, cậu ấy bỗng nhiên lên tiếng, giọng rất khẽ: "Lúc trước... anh có vất vả không?"
Tôi đứng hình.
Tôi từng nghĩ Cố Án sẽ hỏi nhiều câu hỏi.
Tại sao biến thành chim, đã đắc tội với ai, sau này có rắc rối gì không.
Tôi chưa từng nghĩ sẽ là câu hỏi này.
Tôi im lặng rất lâu.
"... Ừm." Tôi nói, yết hầu khẽ lăn động, "Có một chút."
Cố Án không nhìn tôi, chỉ khẽ nói: "Ồ."
Cậu ấy không nói "sau này sẽ không thế nữa đâu", cũng không nói "tôi ở bên anh".
Cậu ấy chỉ "ồ" một tiếng, giống như ghi lại một việc cần ghi nhớ vào bản ghi chú vậy.
Nhưng tôi hiểu được.
Đó là một mảnh nhỏ được tách ra từ thế giới của cậu ấy.
Dùng để ghi nhớ nỗi vất vả của tôi.
Đêm hôm đó, tôi mơ thấy một giấc mơ.
Mơ thấy mình vẫn là con vẹt ở khu chợ chim cảnh đó, ngồi xổm ở mép gian hàng, nhìn người qua kẻ lại.
Tôi đã bay qua một nghìn ô cửa sổ, không có ô cửa nào mở ra vì tôi.
Sau đó tôi bay về phía rìa đám đông, đậu lên vai một người.
Người đó quay đầu lại, đôi mắt đen thâm trầm nhìn tôi, không có băng giá.
Chỉ có một ngọn đèn nhỏ tỏa ra ánh vàng ấm áp.
Cửa sổ đang mở.
END.